Lời tựa Bích Nham Lục 碧巖錄

web-bichNhamLuc-book

Điểm đặc biệt là người soạn 100 tắc tụng cổ là  Tuyết Đậu Trọng Hiển (雪竇重顯  980-1052) quê ở Toại Ninh, Tứ Xuyên.

Khoảng 60 năm sau, người bình giải 100 tắc tụng cổ là Viên Ngộ Khắc Cần Phật Quả (圓悟克勤佛果 1063-1135) người Bành Châu, Tứ Xuyên.

Thiền sư Viên Ngộ biên soạn tại Giáp Sơn, Lễ Châu, Hồ Nam giữa những năm 1111 và 1115 xuất bản và lưu hành tại Tứ Xuyên vào khoảng 1300.

Vì sao là Bích Nham, xin đọc hai câu thơ này:

Vượn bồng con quay về ngọn núi xanh
Chim ngậm hoa rơi trước vách biếc.
猿 抱 子 歸 青 嶂 裏 Viên bão tử quy thanh chướng lí,
鳥 銜 花 落 碧 巖 前 Ðiểu hàm hoa lạc bích nham tiền.
Nguyên tác chữ Hán, được dịch ra tiếng Anh và tiếng Đức của Giáo sư Wilhelm Gundert (bản Đức chỉ có hơn 68 tắc).

Bản Hán có hai bản dịch: Một bản Hòa thượng Thanh Từ dịch Việt theo Thiền Học Đại Thành và Thiền Học Tập Thành, một bản do Hòa thượng Mãn Giác dịch Việt theo bản Tiêu Chú Bích Nham Lục (標註碧巖錄) của Cổ Phương Thiền sư (Bản Hán này không tìm thấy trong Đại tạng chỉ thấy phát hành trên mạng, nên chúng tôi không có được).

Bản Đức do chú Đỗ Quốc Bảo dịch Việt, các bạn có thể xem bản Bích Nham Lục dịch từ bản Đức tại đây. .

Tập sách này có nhiều lời đề tựa, trong phạm vi này chỉ xin trích đôi dòng để các bạn biết qua tác phẩm lừng danh trong nhà thiền.

正文 序
《碧巖錄》全稱《佛果圓悟禪師碧巖錄》,亦稱《碧巖集》,是宋代著名禪僧圓悟克勤大師所著,共十卷。書的內容即重顯禪師的百則頌古和圓悟的評唱組成。 “Bích Nham Lục” gọi đủ là “Phật Quả Viên Ngộ Thiền Sư Bích Nham Lục”, cũng gọi là “Bích Nham tập” do thiền sư Viên Ngộ Khắc cần đời Tống trước tác, gồm 10 quyển.

Nội dung tập sách này do Viên Ngộ Khắc cần bình xướng 100 tắc tụng cổ của thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển.

每一節的具體結構是:一、垂示,即對該則的案例提示綱要,加以引介。二、列出公案案例,其中夾注著語或評語。三、對該則案例加以評唱。四、列出雪竇重顯的頌古詩,其中亦夾注著語或評語。五、對頌古詩作解說性評述。 Mỗi tắc gồm:

1- Thùy thị: Nói cương yếu của tắc công án, thêm lời dẫn gợi ý.

2- Đưa ra công án, trong đó chú giải, lời bình thêm.

3- Bình xướng về tắc công án nêu trên.

4- Đưa ra bài tụng cổ của Tuyết Đậu Trọng Hiển, mỗi câu tụng đều có thêm chú giải , trước ngữ hoặc lời bình.

5- Giải tụng về bài tụng vừa nêu trên.

此書撰成後,在禪林享有盛譽,向有【禪門第一書】之稱。 Sau khi tập sách thành soạn xong, rất thạnh hành trong thiền lâm, được xưng tán là “Thiền môn đệ nhất thư”.

 

Tiểu sử các vị thiền sư trên, sẽ được post dần trên chuyên mục “Theo Bước Truyền Thừa“.

Nội dung tập sách này nói gì? Thật khó mà nói cho rõ. Nhưng có lẽ dùng một cách khác để nói một điều trên hội Linh Sơn chăng!

Các bạn có thể đọc qua một tắc trong Bích Nham Lục do Hòa thượng Thanh Từ dịch.

TẮC 1

THÁNH ĐẾ ĐỆ NHẤT NGHĨA

 

LỜI DẪN: Cách núi thấy khói tức biết có lửa, cách tường thấy sừng liền biết có trâu. Nêu một rõ ba, mắt nhìn liền biết cân lượng, là việc tầm thường cơm nước trong nhà thiền. Đến như cắt đứt các dòng, Đông vọt lên Tây lặn xuống, dọc ngang thuận nghịch buông nắm tự tại, chính khi ấy hãy nói là hành vi của người nào? Thử xem sắn bìm của Tuyết Đậu.

CÔNG ÁN:

Lương Võ Đế hỏi Đại sư Đạt-ma: “Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa?” Đạt-ma đáp: Rỗng thênh không Thánh. Vua hỏi: Đối trẫm là ai? Đạt-ma đáp: Chẳng biết. Vua không khế hội. Đạt-ma bèn sang sông đến Ngụy. Sau vua đem việc này hỏi Hòa thượng Chí Công. Chí Công tâu: Bệ hạ lại biết người này chăng? Vua nói: Chẳng biết. Chí Công tâu: Đây là Quán Âm Đại sĩ truyền tâm ấn Phật. Vua hối hận sai sứ đi thỉnh trở lại. Chí Công tâu: Chẳng những bệ hạ sai sứ đi thỉnh chẳng được, dù người trong cả nước đi thỉnh y cũng chẳng trở lại.

GIẢI THÍCH:

Tổ Đạt-ma xa xem thấy cõi này có căn khí Đại thừa vượt biển mà đến, riêng truyền tâm ấn, vạch bày những lớp mê, chẳng lập văn tự, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật. Nếu thấy được như thế thì có phần tự do, chẳng bị tất cả ngôn ngữ chuyển, thoát thể hiện thành, liền tự nhiên có thể thấy được chỗ đối đáp với Võ Đế ở phần sau và chỗ an tâm của Nhị Tổ, không có một mảy tình trần phân biệt, một đao chặt đứt, thong dong tự tại, đâu cần phân phải phân quấy, biện được biện mất. Tuy nhiên như thế, khéo được có mấy người.

Võ Đế thường đắp ca-sa giảng kinh Phóng Quang Bát-nhã cảm được hoa trời rơi loạn, đất biến thành vàng, hiển đạo thờ Phật, ra chiếu cho toàn dân cất chùa độ Tăng, y kinh điển tu hành, người đời gọi ông là Phật tâm Thiên tử. Tổ Đạt-ma vừa gặp Võ Đế, vua hỏi: Trẫm cất chùa độ Tăng có công đức gì? Đạt-ma đáp: Không công đức. Đây là tạt một gáo nước lạnh vào mặt. Nếu thấu được câu không công đức này, bảo ông thấy Tổ Đạt-ma. Hãy nói cất chùa độ Tăng tại sao toàn không công đức? Ý này ở chỗ nào?

Võ Đế cùng Pháp sư Lũ Ước, Phó Đại sĩ, Thái tử Chiêu Minh luận bàn về chân đế, tục đế, cứ theo trong kinh nói: Chân đế để rõ phi hữu, tục đế để rõ phi vô, chân tục không hai tức là Thánh đế đệ nhất nghĩa. Đây là chỗ cực diệu cùng huyền của giáo lý. Vua đem chỗ cực tắc này hỏi Tổ Đạt-ma: Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa? Tổ Đạt-ma đáp: Rỗng thênh không Thánh. Thiền tăng khắp nơi nhảy không khỏi chỗ này.

Tổ Đạt-ma cho y một đao đứt sạch. Ngày nay có một số người hiểu lầm lại mê hoặc người, trợn mắt đứng tròng bảo: Rỗng thênh không Thánh. Đáng cười không dính dáng.

Ngũ Tổ tiên sư (Pháp Diễn) nói: “Chỉ câu ‘Rỗng thênh không Thánh’ nếu người thấu được về nhà ngồi an ổn, còn bậc nhất đẳng thì làm sắn bìm, chẳng ngại cho y đập bể thùng sơn.” Tổ Đạt-ma thật là kỳ đặc, cho nên nói tham thấu một câu thì ngàn câu muôn câu đồng thời thấu, tự nhiên ngồi được đoạn, nắm được định. Người xưa nói: “Tan xương nát thịt chưa đủ đền, một câu rõ suốt vượt trăm ức.” Tổ Đạt-ma bổ thẳng vào đầu y một phát, cũng đã ít nhiều lận đận. Vua chẳng tỉnh, lại đem chấp nhân ngã hỏi lại: “Đối trẫm là ai?” Tổ Đạt-ma từ bi quá lắm, lại nhằm y nói: “Chẳng biết.” Liền đó Võ Đế sửng sốt không biết chỗ rơi, ấy là lời nói gì? Đến đây việc có việc không nêu ra đều không kham. Hòa thượng Nghĩa Đoan có làm bài tụng:

Nhất tiễn tầm thường lạc nhất điêu
Cánh gia nhất tiễn dĩ tương nhiêu
Trực qui Thiếu Thất phong tiền tọa
Lương chúa hưu ngôn cánh khứ chiêu.

Một mũi tầm thường rớt một con
Lại thêm một mũi tỏ lòng son
Thẳng về Thiếu Thất ngồi trên đảnh
Lương chúa thôi đừng có ngóng mong.

Lại bảo: Ai ngóng mong. Vua chẳng hội, Ngài âm thầm ra khỏi nước. Lão này chỉ đành bối rối. Ngài qua sông đến nước Ngụy. Nhằm lúc vua Hiếu Minh Đế đang trị vì, ông là người chủng tộc phương Bắc họ Thát Bạc, sau này mới gọi theo Trung Quốc. Tổ Đạt-ma đến nước này cũng không yết kiến vua, đi thẳng đến Thiếu Lâm ngồi xây mặt vô vách chín năm, tiếp được Nhị Tổ, phương này gọi Ngài là Bích Quán Bà-la-môn.

Vua Võ Đế sau hỏi Chí Công, Chí Công tâu: Bệ hạ biết người này chăng? Vua bảo: Chẳng biết. Hãy nói, câu này cùng câu chẳng biết của Tổ Đạt-ma là đồng là khác? Giống thì cũng giống, phải thì chẳng phải.

Nhiều người hiểu lầm nói: Trước kia Tổ Đạt-ma đáp ông là Thiền, sau này Võ Đế đáp Chí Công “chẳng biết” là chẳng biết nhau. Thật nào có dính dáng. Chính khi Chí Công hỏi thế ấy, hãy nói đáp thế nào? Sao chẳng đập một gậy chết tốt cho rồi, để khỏi thấy bôi hồ trét lọ. Võ Đế lại đáp ông: Chẳng biết. Chí Công gặp lúc phải làm, liền nói: Đây là Quán Âm Đại sĩ truyền Phật tâm ấn. Võ Đế hối hận sai sứ đi thỉnh lại. Thật chẳng ngại ngùng. Chính khi Chí Công nói đây là Quán Âm Đại sĩ truyền Phật tâm ấn, cũng nên đuổi y ra khỏi nước, vẫn còn so sánh chút ít.

Tương truyền Hòa thượng Chí Công tịch vào niên hiệu Thiên Giám thứ mười ba (514), Tổ Đạt-ma sang Trung Quốc niên hiệu Phổ Thông năm đầu (520) cách nhau bảy năm, tại sao lại nói đồng thời gặp nhau, đây ắt là sai. Cứ theo truyện chép, nay chẳng luận việc này, chỉ cần biết đại cương thôi. Hãy nói Đạt-ma là Quán Âm, Chí Công là Quán Âm thì ai là Quán Âm thật, đã là Quán Âm sao lại có đến hai? Chẳng những có hai mà thành đoàn kết đội. Thời Hậu Ngụy, Luật sư Quang Thống, Tam Tạng Pháp sư Bồ-đề-lưu-chi cùng Tổ Đạt-ma luận nghị.

Tổ bác tướng chỉ tâm, các vị vì lượng nhỏ hẹp, tự không kham nhận, dấy khởi tâm hại, nhiều lần để thuốc độc. Đến lần thứ sáu, do hóa duyên đã hết, đã được người truyền pháp, nên không cần cứu, Tổ ngồi ngay thẳng mà tịch, nhập tháp trên núi Hùng Nhĩ tại chùa Định Lâm.

Thời Hậu Ngụy, Tống Vân đi sứ đến núi Thông Lãnh gặp Tổ tay xách chiếc giày về Tây. Võ Đế nhớ lại tự làm văn bia: “Than ôi ! Thấy đó chẳng thấy, gần đó chẳng gần, gặp đó chẳng gặp, kim ấy cổ ấy, oán ấy hận ấy.”

Lại tán: “Tâm có vậy, nhiều kiếp mang thân phàm phu, tâm không vậy, trong khoảng sát-na liền lên Diệu giác.” Hãy nói Đạt-ma hiện nay ở đâu? Lầm qua cũng chẳng biết.

TỤNG:

Thánh đế khoách nhiên
Hà đương biện đích.
Đối trẫm giả thùy?
Hoàn vân bất thức.

Nhân tự ám độ giang
Khởi miễn sanh kinh cức.
Hạp quốc nhân truy bất tái lai
Thiên cổ vạn cổ không tương ức.

Hưu tương ức
Thanh phong táp địa hữu hà cực.
Thánh đế rỗng thênh
Làm sao biết trúng.
Đối trẫm là ai?
Lại bảo chẳng biết.

Nhân đây ngầm sang sông
Há khỏi sanh gai góc.
Người cả nước mời chẳng trở về
Muôn đời ngàn đời nhớ nhau suông.

Thôi nhớ nhau
Gió mát khắp nơi nào có tột.

Sư nhìn chung quanh bảo: Ở đây lại có Tổ sư chăng? Tự đáp: Có, gọi đến rửa chân cho Lão tăng.

GIẢI TỤNG:

Cứ theo lời tụng công án này của Tuyết Đậu giống như người giỏi múa kiếm Thái A, huơi trong hư không thênh thang mà không chạm đến lưỡi bén. Nếu người không có thủ đoạn này, vừa nắm đến liền chạm lưỡi đứt tay. Nếu là người có mắt sáng, thấy Sư một đưa ra một rút lại, một khen một chê, chỉ dùng bốn câu đủ quyết định một tắc công án. Phàm tụng cổ chỉ là “nhiễu lộ nói Thiền”, niêm cổ đại cương là “cứ khoản kết án” mà thôi. Tuyết Đậu vì kia lôi ra bổ thẳng vào đầu, liền nói: “Thánh đế rỗng thênh, làm sao biện trúng.”

Tuyết Đậu ngay câu đầu hạ một câu này rất là kỳ đặc. Hãy nói cứu kính làm sao biện trúng? Dù cho mắt sắt tròng đồng dò tìm cũng chẳng được. Đến đây dùng tình thức suy đoán được chăng?

Do đó Vân Môn nói: Như chọi đá nháng lửa, như làn điện chớp. Cái này không rơi vào tâm cơ, ý thức, tình tưởng đợi ông mở miệng, kham làm gì? Khi khởi so sánh thì chim điêu đã bay đến Tân La.

Tuyết Đậu nói, Thiền tăng khắp nơi các ông làm sao biện trúng? “Đối trẫm là ai” liền hạ “lại bảo chẳng biết”. Đây là Tuyết Đậu rất mực từ bi vì người trùng lặp. Hãy nói “rỗng thênh” cùng “chẳng biết” là một loại hay hai thứ? Nếu là người đã liễu ngộ thì chẳng nói mà hiểu, người chưa liễu ngộ quyết định cho là hai.

Chư phương tầm thường đều nói Tuyết Đậu một phen chỉ lại. Đâu chẳng biết chỉ bốn câu tụng đã tột công án. Sau vì lòng từ bi tụng ra sự tích “nhân đây ngầm sang sông, há khỏi sanh gai góc”.

Tổ Đạt-ma đến xứ này vì gỡ niêm mở trói, nhổ đinh tháo chốt, dẹp trừ gai góc cho người, tại sao lại nói “sanh gai góc”? Chẳng những là người đương thời, mà người đời nay gót chân vẫn còn lún sâu mấy trượng.

“Người cả nước mời chẳng trở về, muôn đời ngàn đời nhớ nhau suông”, rất mực chẳng trượng phu.

Hãy nói Đạt-ma ở chỗ nào? Nếu thấy Đạt-ma là thấy chỗ rốt sau vì người của Tuyết Đậu. Tuyết Đậu sợ e người chạy theo tình kiến, vì thế rút hẳn cây chốt cửa, bày kiến giải của chính mình, nói: “Thôi nhớ nhau, gió mát khắp nơi nào có tột.” Đã thôi nhớ nhau, việc dưới gót chân ông lại là gì? Tuyết Đậu nói chính nay gió mát khắp nơi, trên trời dưới trời chỗ nào thiếu.

Tuyết Đậu nắm việc ngàn xưa muôn xưa ném đến trước mặt. Chẳng những Tuyết Đậu đương thời chỗ nào thiếu, mà trên phần của các ông cũng chỗ nào thiếu. Sư lại sợ người chấp ở trong ấy, lại lập phương tiện, lớn tiếng bảo “trong đây lại có Tổ sư chăng”? Tự đáp “có”. Tuyết Đậu ở trong ấy chẳng ngại vì người lòng son từng mảnh.

Lại tự nói: “Gọi đến rửa chân cho Lão tăng”, giảm tột uy quang người. Đương thời đã làm đầy đủ bổn phận. Thử nói ý Tuyết Đậu ở chỗ nào? Đến đây gọi lừa là phải, gọi ngựa là phải, gọi Tổ sư là phải? Danh mạo thế nào? Người thường bảo rằng: Tuyết Đậu sai sử Tổ sư. Đáng tức cười không dính dáng.

Nói xem, cứu kính thế nào? Chỉ cho lão Hồ biết, chẳng cho lão Hồ hiểu.

 

Trang 1 trên 3012345...102030...Trang cuối »