Thiền Uyển Tập Anh – Tỳ-ni-đa-lưu-chi

Thiền Uyển Tập Anh bản vi tính do ban vi tính thực hiện, căn cứ vào truyền bản LÊ II.

Theo Lê Mạnh Thát, truyền bản này in khoảng trước sau năm 1750.

Những chú thích trong bản vi tính này căn cứ theo bản hiệu đính của Lê Mạnh Thát (Nghiên cứu về Thiền Uyển Tập Anh, NXB tp HCM, 1999)

禪苑集英

龍編古州鄉法雲寺比尼多流支禪師

 THIỀN UYỂN TẬP ANH

1- THIỀN SƯ TỲ NI ĐA LƯU CHI

Chùa Pháp Vân, làng Cổ Châu, Long Biên

龍編古州鄉法雲寺比尼多流支禪師南天

竺國人婆羅門種也少負邁俗之志徧逰西

竺求佛心印法緣未契携錫而東南陳朝大

建六年壬午[1]初至長安會周武帝隳滅佛法

欲徃于鄴時三祖僧璨以避難故挈其衣鉢

隱司空山師與之遇見其举止非凡心中起

敬乃向前叉手立者三反祖皆瞑坐無語師

於佇思次豁然若有所得展拜三下祖三點

頭而已師退三步云弟子向來也是不著便

和尚大慈悲故願乞奉侍左右祖曰汝速南

行交接不宜久住於此師辭去卓錫廣州制

旨寺大抵六年譯得象頭報業差別等經迨

周大祥二年庚子三月來于我土此寺居焉

復譯出摠持經一卷

 

Sư là người Nam Thiên Trúc (Nam Ấn Độ), dòng Bà-la-môn, tên Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci).

Thuở nhỏ đã có chí khác thường, đi khắp miền Tây Trúc (Tây Ấn Độ) để tham khảo thiền tông. Nhưng vì cơ duyên chưa gặp, sư lại sang Đông Nam.

Sư sang Trung Quốc nhằm đời Trần Tuyên Đế, niên hiệu Thái Kiến năm thứ sáu (574) vào đến Trường An. Gặp thời Chu Vũ Đế phá diệt Phật pháp, sư lại phải sang qua đất Nghiệp (Hồ Nam). Lúc ấy, Tổ Tăng Xán đang mang y bát ở ẩn trong núi Tư Không, bỗng nhiên sư tìm gặp được Tổ. Thấy cử chỉ phi phàm của Tổ, sư phát tâm kính mộ, đến trước vòng tay ba lần, Tổ vẫn ngồi im nhắm mắt không nói. Sư đứng suy nghĩ giây lát, bỗng nhiên tâm có sở đắc. Sư liền sụp xuống lạy ba lạy, Tổ cũng chỉ gật đầu ba cái. Sư lùi lại ba bước thưa:

– Đệ tử lâu nay không được an, Hòa thượng vì lòng đại từ bi, xin cho con theo hầu hạ Ngài.

Tổ bảo:

– Ngươi nên mau qua phương Nam giáo hóa, không nên ở đây lâu.

Sau khi được tâm ấn nơi Tổ, sư từ biệt sang Quảng Châu trụ trì tại chùa Chế Chỉ. Thời gian sáu năm ở đây, sư dịch xong bộ kinh[3] Tượng Đầu Tinh Xá và Báo Nghiệp Sai Biệt kinh[4] chữ Phạn ra chữ Hán.

Đến niên hiệu Đại Tường năm thứ hai nhà Chu (580), sư sang Việt Nam trụ trì tại chùa Pháp Vân[5]. Nơi đây, sư dịch xong bộ kinh Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì[6]

[2]一日召入室弟子法

賢謂曰夫諸佛心印必不相賺圓同太虚無

欠無餘無去無來無得無失非一異非常 非

断本無生處亦無滅處亦非遠離非不遠離

為對妄緣假立名爾所以三世諸仸亦以如

是歷 代祖師亦以如是得我亦以如是得汝

亦以如是得以至有情無情皆以如是得且吾

祖璨公印吾此心時謂吾速南行交接不宜

 久住曠歷于玆今與汝遇果符縣記汝善持

之吾去時至矣

 

Một hôm, sư gọi đệ tử nhập thất là Pháp Hiền, bảo:

– Tâm ấn của chư Phật, không có lừa dối, tròn đồng thái hư, không thiếu không dư, không đi không lại, không được không mất, chẳng một chẳng khác, chẳng thường chẳng đoạn. Vốn không có chỗ sanh, cũng không có chỗ diệt, cũng chẳng xa lìa, mà chẳng phải chẳng xa lìa. Vì đối với vọng duyên mà giả lập tên ấy thôi.

Bởi thế chư Phật trong ba đời cũng như thế, nhiều đời Tổ sư cũng do như thế mà được, ta cũng do như thế được, ngươi cũng do như thế được, cho đến hữu tình vô tình cũng do như thế được. Tổ Tăng Xán khi ấn chứng tâm này cho ta, bảo ta mau về phương nam giáo hóa, không nên ở đây lâu. Đã trải qua nhiều nơi, nay đến đây gặp được ngươi, quả là phù hợp với lời huyền ký. Vậy ngươi khéo giữ gìn, giờ đi của ta đã đến.

言訖合掌而逝法賢闍維收

五色舍利起塔時隋開皇十四年甲寅也李

太宗常有偈追賛云創自來南國聞君久習

禪應開諸仸信遠合一心源皎皎楞伽月芬

芬若般蓮何時嵓 不見相與話重玄贈封云

法雲比尼多流支法嗣

Nói xong, sư chấp tay thị tịch. Pháp Hiền làm lễ hỏa táng, lượm xá-lợi năm sắc, xây tháp cúng dường. Năm ấy nhằm niên hiệu Khai Hoàng thứ mười bốn – nhà Tùy (594).

Về sau, vua Lý Thái Tông (1028-1054) có làm bài kệ truy tán, phong tặng sư:

Mở lối nước Nam đến,
Nghe ngài giỏi tập thiền.
Hiện bày các Phật tánh,
Xa hiệp một nguồn tâm.
Trăng Lăng-già sáng rỡ,
Hoa Bát-nhã ngạt ngào.
Bao giờ được gặp mặt,
Cùng nhau bàn đạo huyền.

Sáng tự Nam lai quốc 
Văn quân cửu tập thiền 
Ứng khai chư Phật tánh 
Viễn hợp nhất tâm nguyên 
Hạo hạo Lăng-già nguyệt 
Phân phân Bát-nhã liên. 
Hà thời hạnh tương kiến 
Tương dữ thoại trùng huyền.

Bản Việt: THIỀN SƯ VIỆT NAM – Hòa thượng Thanh Từ

[1] 壬午 : LMT = 甲午

[2] 常 : LMT = 嘗

[3] 《象頭精舍經》、《報業差別經》

[4] Phật thuyết Tượng Đầu Tinh Xá Kinh, Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng số 466.

[5] Chùa Pháp Vân cũng gọi là chùa Dâu, tên chữ là chùa Diên Ứng, ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc. Hiện nay cách Hà Nội khoảng 25km về hướng đông. Chùa này thời Lý gọi là chùa Cổ Châu (làng Cổ Châu, huyện Siêu Loại). Đời Trần gọi là chùa Thiền Định hay chùa Siêu Loại. Đời Hậu Lê gọi là chùa Diên Ứng.

[6]Phật thuyết Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì Kinh, Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng số 275.


Xem thêm về bài chùa Dâu


< Trở về mục lục

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *