TÀO KHÊ – Nam Hoa Thiền Tự

TÀO KHÊ – NAM HOA THIỀN TỰ
Huyện Khúc Giang, thành phố Thiều Châu,
tỉnh Quảng Đông

nam-linh-ngu-linhThiều Quan được gọi là Bắc Đại Môn của Quảng Đông, là con đường giao thông trọng yếu của phương Bắc (lưu vực Hoàng hà) cùng lưu vực Trường giang và Hoa Nam duyên hải. Thiều Quan cũng là nơi lưu danh lịch sử văn hóa.
Qua nhiều thay đổi, đến niên hiệu Trinh Quán năm đầu (627) đổi thành Thiều Châu.
Thời Ngũ Đại thuộc Nam Hán (917), đến nhà Nguyên (1280) lại đổi thành Thiều Quan.

 

nam-hoa-thien-tu

Nam Hoa Tự phía nam dãy núi Dữu Lãnh, cách huyện Khúc Giang chánh nam 10 km, bên dòng Tào Khê tại Thiều Quan, tỉnh Quảng Đông.
Năm 502, Nam triều Lương Vũ Đế niên hiệu Thiên Giám năm đầu, tăng Trí Dược từ Thiên Trúc đến Tào Khê, uống nước nơi đây thấy vị ngọt lạ kì, bảo nên lập chùa, và sấm kí rằng 170 năm sau có vô thượng pháp bảo đến hoằng hóa. Vua sắc tên Bảo Lâm Tự (寶林寺).
Năm 505, Lương Vũ Đế, Thiên Giám năm thứ ba, chùa hoàn thành. Cuối đời nhà Tùy chùa gặp binh lửa nên hư phế.
Năm 677, Đường Nghi Phụng năm thứ hai, tổ Huệ Năng được thỉnh đến Tào Khê, chùa được địa chủ Trần Bá Tiên trùng hưng.
Năm 705, Đường Trung Tông, niên hiệu Thần Long năm đầu đổi Bảo Lâm Tự thành Trung Hưng Tự (中興寺).
Năm 708, Vua ban bản ngạch là Pháp Tuyền Tự (法泉寺).
Năm 968, Tống Thái Tổ, Khai Bảo năm đầu, tu chỉnh toàn bộ chùa ban tên là Nam Hoa Thiền Tự (南华禅寺).
Năm 1600, Qua nhiều binh biến, chùa suy tàn, đến Minh Vạn Lịch năm thứ 28, Thiền sư Hám Sơn đến trung hưng.
Năm 1934, Hòa thượng Hư Vân đến trùng tu . □

triduoc

 

 

Khoảng năm 502-510 Tôn giả Trí Dược đến Quảng Châu. Khi đến Tào Khê uống nước suối này, Tôn giả biết nguồn suối có đất tốt để xây chùa, bèn lên thượng nguồn, khuyến khích dân xây chùa đặt tên chùa Bảo Lâm và bảo rằng 170 năm sau có nhục thân Bồ Tát đến đây giáo hóa.
Lục Tổ Huệ Năng đến chùa Bảo Lâm giáo hóa đúng như lời sấm ký.
Hiện nay (2010) tại chùa Nam Hoa (Bảo Lâm) có điện thờ ngài Trí Dược.

Lục Tổ Huệ Năng (638-713)
Nam Hoa Thiền Tự, Khúc Giang, Thiều Châu
Sơ Tổ Đạt Ma → Nhị Tổ Huệ Khả → Tam Tổ Tăng Xán → Tứ Tổ Đạo Tín → Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn → Lục Tổ Huệ Năng

nhuc-than-luc-to

     Đường Nghi Phụng năm thứ hai (677) Lục Tổ được thỉnh đến Bảo Lâm Tự tại Tào Khê, từ đây tông phong Tào Khê hưng thịnh.
     Ấn Tông cùng tăng ni đạo tục hơn trăm ngàn người từ chùa Pháp Tánh đưa Tổ về Bảo Lâm Tự.
     Thích sử Thiều Châu là Vi Cừ thỉnh Tổ đến chùa Đại Phạm chuyển diệu pháp luân cùng trao giới vô tướng tâm địa.
     Nơi Tào Khê, rưới mưa pháp, người học chẳng dưới ngàn người.
     Niên hiệu Thần Long năm đầu (705 TL) vào ngày rằm tháng giêng vua Trung Tông và Tắc Thiên ban chiếu rằng: “Trẫm thỉnh hai sư An và Tú vào trong cung cúng dường, mỗi khi rảnh việc thì nghiên cứu về nhất thừa, hai Sư đều nhường rằng: Phương Nam có Huệ Năng Thiền sư được mật trao pháp y của Đại sư Hoằng Nhẫn, được truyền Phật tâm ấn, nên thỉnh người đến thưa hỏi. Nay sai Nội thị Tiết Giản mang chiếu nghinh thỉnh, mong Thầy từ niệm, chóng đến Kinh đô.”

     Tổ dâng biểu từ bệnh, nguyện trọn đời ở nơi rừng núi. Ngày mùng ba tháng chín năm ấy có chiếu tưởng dụ Sư rằng: “Thầy từ vì già bệnh, vì trẫm mà tu hành, làm phước điền cho đất nước. Thầy cũng như ngài Tịnh Danh giả bệnh nơi thành Tì-da để xiển dương Đại thừa, truyền tâm chư Phật, nói pháp bất nhị. Tiết Giản truyền lại lời Thầy chỉ dạy tri kiến Như Lai, trẫm chứa được nhiều công đức lành, gieo được hạt giống lành đời trước mới gặp Thầy ra đời, đốn ngộ pháp thượng thừa, cảm ân đức Thầy, đầu đội không thôi, cùng dâng chiếc Ma Nạp ca-sa và bát thủy tinh, sắc cho Thứ sử Thiều Châu sửa sang lại chùa và ban hiệu chùa cũ Thầy ở là chùa Quốc Ân.”
     Cuối đời Lục Tổ về nơi quê nhà, trụ tại Quốc Ân Tự vị trí tại trấn Tập Thành, huyện Tân Hưng, thành phố Vân Phù dưới chân núi Long Sơn, tỉnh Quảng Đông. Chùa kiến lập vào thời Đường Cao Tông, niên hiệu Hoằng Đạo năm đầu (683).
     Đường Hiến Tông niên hiệu Nguyên Hòa (806-820) ban thụy hiệu là Đại Giám Thiền Sư, tháp hiệu Nguyên Hòa Linh Chiếu. □


dai-pham-tuChùa Đại Giám (Đại Phạm) tại Thiều Quan
Chùa Đại Phạm kiến lập vào thời Nam Bắc triều, đến nay gần 1500 năm. Đường Nghi Phụng năm thứ hai (677) Lục Tổ Huệ Năng đến đạo tràng Bảo Lâm (Nam Hoa Thiền Tự), thường được Thích sử Vi Cừ ở Thiều Châu thỉnh đến chùa Đại Phạm giảng kinh. Sau khi Lục Tổ viên tịch, Đường Hiến Tông ban thụy hiệu là Đại Giám Thiền Sư, người sau vì kỉ niệm Lục Tổ từng đến chùa giảng kinh nên đổi tên chùa là Đại Giám Tự

quoc-an-tu-luc-to

Phụ Giáo Biên ghi: Buổi đầu Huệ Năng bán củi nuôi mẹ. Khi đi tìm thầy học đạo, nhờ người lo cho mẹ. Đến lúc Sư trở về thì mẹ đã mất. Sư than thở không được toại ý đạo làm con.

Đại sư Huệ Năng vì báo ân cha mẹ vào niên hiệu Hoằng Đạo năm đầu (683) nhà Đường kiến lập chùa tên Báo Ân Tự.
Đường Trung Tông, niên hiệu Thần Long năm thứ hai (706) hạ chiếu đổi thành “Quốc Ân Tự”, ngày nay biển ngạch còn ghi “Sắc Tứ Quốc Ân Tự”. Quốc Ân tự tựa lưng vào núi Long Sơn nên còn được gọi Long sơn Tự.

quoc-an-tu-co-thuCổ thụ hơn ngàn năm do Lục Tổ trồng tại Quốc Ân Tự


< Trở về mục lục

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *