空谷集 Tắc 1- Thanh Nguyên giai cấp

第一則青原堦級

Tắc 1: Thanh Nguyên giai cấp

[0268c17] 示眾云。大忘[1]人世。何必三思[2]。擊碎疑團。那消一句[3]。不滯玄關。縱橫得妙者。是甚麼人。 Dạy chúng: Nhân thế lắm đảo điên đâu cần phải bận tâm. Phá vỡ nghi tình rồi cần gì ý chỉ huyền diệu của thiền. Không kẹt cửa huyền, tự do diệu dụng đó là người nào?
[0268c19] 舉思和尚問六祖大師。當何所務即得不落堦階級(但能行好事。何必問前程)。

祖云。汝曾作甚麼來(劈腹剜心)。

思云聖諦亦不為(還丹一粒。點鐵成金)。

祖云落何堦級(為垂一隻手。不惜兩莖眉)。

思云。聖諦尚不為。落何堦級(迷時三界有。悟後十方空)。

祖云。如是如是(怜兒不覺醜)。汝善護持。吾當[4]有偈(願聞法要)。

心地含諸種(總在裏許)。
普雨悉皆萌(諸法從緣生)。
頓悟花情[5]已(並不生枝引蔓。)
菩提果自成(須知甜向苦中來)。

Nêu: Hòa thượng Hành Tư hỏi Lục Tổ Đại Sư, phải làm việc gì mới không rơi vào thứ bậc (nên làm việc cho tốt đâu cần hỏi tương lai).

Tổ hỏi: Ông từng làm việc gì? (bày hết tâm can)

Hành Tư thưa: Thánh đế cũng không làm (một viên hoàn đơn chạm vào sắt thành vàng)

Tổ nói: Rơi vào thứ bậc nào (vì lòng từ bi chẳng tiếc đôi lông mày)

Hành Tư thưa: Thánh đế cũng chẳng làm, rơi vào thứ bậc nào? (khi mê có tam giới, ngộ rồi mười phương không)

Tổ nói: Đúng thế! Đúng thế! (thương con không biết nhơ). Ông khéo gìn giữ, ta có kệ (mong nghe pháp yếu).

Đất tâm chứa các giống (đều ở trong đó)
Mưa khắp đều nảy mầm (các pháp từ duyên sanh)
Hoa đốn ngộ thật nở  (đều không sanh cành lá)
Quả bồ đề tự thành (phải biết vị ngọt trong vị đắng).

[0269a02] 師云。修行漸次今古  皆然。利鈍根機固難齊等。始自見.修.無學。至暖.頂.忍.世[6].等妙二覺。皆不出建化[7]玄門復應       圓機[8]。盡情吐露道。成就慧身[9]不由他悟。初發心時即證菩提。子細點撿將來。也只道得一半。至若如來不出世亦無有涅盤。始是八成。只如[10]十成[11]一句合作麼生道。多口衲僧難舉似。無言童子善敷揚[12]

南嶽讓和尚甞謂馬大師曰。汝學心地法門如下種子。我說法要譬彼天澤。汝緣合故當見其道。況此種子人人具有箇箇不無。慎勿辜負己靈埋沒家寶。得坐披衣[13]向後自看。雖是林泉口淺。汝等諸人不得氣高糨大。或見不見。更須審問投子始得。頌曰。

Sư nói: Xưa nay sự tu hành đều có thứ bậc vậy, song căn cơ có nhanh chậm khó mà tương đồng. Ban đầu từ Kiến đạo, Tu đạo, Vô Học đạo, đến Noãn, Đãnh, Nhẫn, Thế, cùng đẳng giác diệu giác, đều không ra pháp môn phương tiện, lại ứng hợp cơ viên đốn, đã trình bày rõ ràng. Thành tựu huệ mạng không nương nơi khác mà ngộ, vừa phát tâm liền chứng bồ đề. Xét kỹ lại cũng chỉ được một nửa. Cho đến Như Lai không xuất hiện ở đời cũng không nhập Niết-bàn mới được tám phần. Vậy thì làm sao nói được một câu thấu triệt? Nạp tăng giỏi biện luận khó có thể mà nói hết, Đồng tử (bồ tát) vô ngôn khéo diễn bày.

Hòa thượng Nam Nhạc từng bảo với Mã Đại Sư rằng: “Ông học pháp môn tâm địa, như gieo hạt giống. Ta nói pháp yếu như mưa móc. Ông duyên hợp nên thấy đạo kia. Hà huống  hạt giống này người người đều đủ, không ai không có. Chớ cô phụ tánh linh của mình, chôn vùi gia bảo, chân thật tu hành về sau tự khán.”

Tuy Lâm Tuyền lời thiển cận các ông không được tự cao tự đại. Nếu thấy hay không thấy cần phải thưa hỏi Đầu Tử mới được. Tụng rằng:

[0269a13] 無見頂露雲攢[14]急(覷著即瞎)。
劫外靈枝不帶春(三光不照處。別有好思量)。
那邊不坐空王殿(無漏國中留不住)。
爭肯耘田[15]向日輪(月華影裏見應難)。
Bày đảnh Vô kiến mây gom nhóm (nhìn thì mù).
Kiếp ngoại cành linh không đợi xuân (chỗ ba thứ ánh sáng không chiếu riêng có thể suy lường).
Bên kia không ở điện Không Vương (trong cõi nước vô lậu lưu giữ không ở).
Đâu chịu nhổ cỏ hướng lên mặt trời (trong bóng trăng thấy thật khó).
[0269a16] 師舉花嚴經云。譬如虗空遍至一切色非色處。非至非不至。何以故。虗空無身故。如來身亦復如是。遍一切處。遍一切眾生。遍一切法。遍一切國土。何以故。如來身無身故。為眾生故示現其身。只如無見頂露。合作麼生摸索。若也迷雲靄靄昏霧蒙蒙。急著眼處轉沒交涉。況空劫前[16]時不藉意根靈枝自秀。那待陽和[17]而品第者邪。是他本來沒面目漢。離得失情量[18]。出升沉窠臼。聖凡莫測次序難拘。不妨洒洒落落妥妥帖帖。雖然如是。未免南泉道威音王佛猶是王老師兒孫。何也。自古輪王全意氣。不彰寶印自然尊。 Sư nêu kinh Hoa Nghiêm: “Thí như hư không khắp tất cả cõi sắc phi sắc, chẳng đến chẳng không đến. Vì cớ sao? Hư không không có hình tướng, thân Như Lai cũng lại như thế. Khắp tất cả chỗ khắp tất cả chúng sanh, khắp tất cả pháp, khắp tất cả cõi nước. Vì cớ sao? Vì thân Như Lai là không thân vậy. Vì chúng sanh nên hiện thân kia.” Như  đảnh vô kiến đã bày tìm kiếm làm gì. Nếu  như mây mê mờ mịt, sương mù bủa giăng, chỗ vừa thấy cũng chẳng dính dáng. Huống nữa trước Không Kiếp không nương ý căn, cành linh tự trổ hoa đâu cần khí xuân, mà phân thứ bậc ư. Là người xưa nay không mặt mũi, lìa chỗ được mất tình lượng. Ra khỏi sự khen chê, phàm thánh chẳng lường, thứ bậc chẳng chấp, mặc tình tiêu sái. Tuy nhiên như thế chưa khỏi bị Nam Tuyền nói: “Phật Oai Âm Vương vẫn là con cháu Vương lão sư.” Sao vậy?

Xưa nay chuyển luân đủ chí khí,
Không lộ ấn báu tôn tự nhiên.

[1] 大忘 đại vong = 喻本末倒置

[2] 三思 tam tư = 謂 少思長,老思死,有思窮

[3] 一句 nhất cú    một câu ; ý chỉ huyền diệu của thiền

[4] 吾當 = 我。當,語助詞。

[5] 情 tình = lý trí ,thật [ phó từ ]   

[6]暖.頂.忍.世noãn đảnh nhẫn thế = là tứ gia hạnh ( tứ thiện căn). Noãn gia hạnh: noãn từ nơi dụ mà được tên. Nghĩa là như người lấy củi cọ sát lấy lửa, tuy chưa có lửa mà trước có tướng nóng. Thí như trong vị gia hạnh này lấy lửa trí tuệ đốt củi phiền não, tuy chưa được trí tuệ vô lậu đã được tướng lửa trí tuệ gọi là noãn gia hạnh
Đảnh : nghĩa là quán hạnh chuyển sang ở trên noãn kia, như lên núi thấy bốn phương tỏ rõ nên gọi là đãnh gia hạnh.
Nhẫn có hai nghĩa: một khổ đế thật là khổ cho đến đạo đế thật là đạo đế; hai là nghĩa quyết định. Căn lành quyết định không thối chuyển nên gọi là nhẫn gia hạnh.
Thế đệ nhất: trong hạnh này quán lý tứ đế tuy chưa có thể chứng mà ở trong thế gian là hơn hết, nên gọi là thế đệ nhất gia hạnh.

[7]建化門Kiền hóa môn : Pháp môn giáo hoá của Phật Tổ gây dựng. Nhà thiền cho rằng Kiến hoá môn chẳng phải là diệu pháp đốn ngộ, mà chỉ là pháp môn phương tiện nhằm thích nghi với số đông căn cơ trung hạ.[TĐTT]

[8]圓機 viên cơ   căn cơ viên đốn

[9]慧身   huệ thân   謂如來之真心體明,自性無闇,觀達法性,稱為慧法身,即指根本智。

[10]只如 chỉ như: thế thì; ngay như; chẳng hạn như

[11]十成 thập thành: đầy đủ; hoàn toàn; mười tầng

[12]敷揚 phu dương: 傳播宣揚

[13]得坐披衣đắc toạ phi y:  Được ngồi mặc áo. Thiền tông dùng từ này để chỉ cho việc tu hành một cách chân thật.

[14] 攢toản = gom góp

[15] 耘田 : nhổ cỏ (ruộng)

[16]空劫前Còn gọi: Phụ mẫu vi sinh dĩ tiền, Không vương dĩ tiền, Không vương na bạn, Trẩm triệu vị manh dĩ tiền, Bản lai diện mục. Chỉ thời đại không không tịch tịch trước khi thành lập thế giới. Trước khi trời đất chưa sinh, trọn không có sự đối đãi sai biệt như thiện ác, mê ngộ, phàm thánh, hữu vô…, cũng chính là cảnh giới tồn tại tuyệt đối trước khi sinh khởi sum la vạn tượng.

[17] 陽和: 春天的暖氣

[18]情量 tình lượng: 指個人的標准


< Trở về mục lục

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *