TBTT- Quyển 1 – “Vượt sóng qua Đông”[1]

1- Quang Dong-VuotSongQuaDong- blog
Quyển 1 – “Vượt sóng qua Đông”, Sơ Tổ Bồ-đề Đạt-ma từ Thiên Trúc đem thiền qua Đông Độ.
Miền đất Lãnh Nam với dòng Tào Khê, núi Vân Môn… Lục Tổ Huệ Huệ Năng và Tổ Vân Môn Văn Yển được đưa vào trước vì núi Vân Môn trong miền đất này.
VƯỢT SÓNG QUA ĐÔNG
Thiền Sư tại Quảng Châu
Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma   //   Lục Tổ Huệ Năng   //   Pháp Tánh Ấn Tông  //  Quảng Châu Chí Đạo   //   Hòa An Vô Ngôn
Thông  //   Văn Thù Viên Minh   //   Hoa Nghiêm Huệ    //   Hòa Thượng Diên Trường  //   Hoàng Vân Nguyên   //   Long Cảnh Luân
//   Quang Thánh Sư Hộ   //   La Sơn Sùng   //   La Phù Hiển Như
Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma (470-543) 
(Tổ thứ hai mươi tám tại Thiên Trúc)
[Sơ Tổ Thiền Tông tại Đông Độ]
ToBoDeDatMa
Sơ tổ Đại sư Bồ-đề Đạt-ma (Bodhidharma) người nam Thiên Trúc, là con thứ ba của vua Hương Chí. Dòng Sát-đế-lợi (Kṣatriya), tên Bồ- đề Đa-la (Tāla).
Khi Tôn giả Bát-nhã Đa-la (Prajñātāra) sang Nam Ấn hoằng hóa, vua Hương Chí thỉnh về cung cúng dường, bảo ba vị Thái-tử ra đảnh lễ Tôn giả. Ngài biết ba vị Thái-tử đều ham tu, muốn nghiệm thử trí mỗi người thế nào. Sẵn nhà vua cúng dường hạt
châu quý vô giá, Ngài lấy ra hỏi: Ở đời còn có vật gì quý báu bằng hạt châu này chăng?
Con trưởng là Nguyệt Tịnh thưa: Hạt châu nầy quý tột, ở đời không có gì hơn nó, chẳng phải trong nhà vua thì làm gì có hạt châu nầy.
Con thứ là Công Đức Đa-la cũng đồng ý như vậy.
Riêng Bồ-đề Đa-la thưa: Châu nầy là của báu thế gian chưa đủ làm tột, trong các thứ báu chỉ có pháp bảo là tột. Đây là ánh sáng của thế gian, trong các thứ ánh sáng chỉ có ánh sáng trí tuệ là tột. Đây là trong sạch của thế gian, trong các thứ trong sạch, chỉ tâm trong sạch là trên hết. Nhưng ánh sáng của hạt châu nầy không thể tự chiếu, cần nhờ ánh sáng trí tuệ mới biện biệt được nó. Đã biện rõ mới biết là châu, đã biết là châu mới hiểu cái quý báu của nó. Nếu hiểu cái quý báu của nó, thì nó báu mà không biết báu. Nếu biện rõ nó là châu, thì nó châu mà chẳng tự biết châu. Châu mà chẳng tự biết châu, cần nhờ trí châu mới biện được thế châu. Báu mà chẳng tự biết báu, cần nhờ trí bảo mới rõ pháp bảo. Song mà, thầy tôi có đạo thì báu kia liền hiện. Chúng sanh có đạo thì tâm báu cũng thế. Tôn giả khen ngợi tài biện luận của Bồ-đề Đa-la. Lại hỏi thêm: Trong các vật, vật gì không tướng?
Thưa: Trong các vật, chẳng khởi là không tướng.
Tôn giả hỏi: Trong các vật, vật gì là tối cao?
Thưa: Trong các vật, nhơn ngã là tối cao.
Tôn giả hỏi: Trong các vật, vật gì là tối đại?
Thưa: Trong các vật, pháp tánh là tối đại.
Tôn giả thầm vui biết là đại pháp khí sẽ nối dõi sau nầy.
Về sau, Tôn giả gọi Bồ-đề Đa-la đến dặn dò: Đại pháp nhãn tạng của Như Lai lần lượt truyền trao, nay ta trao cho ngươi, ngươi khéo truyền bá chớ cho đoạn dứt. Nghe ta nói kệ:
Tâm địa sanh chư chủng
Nhơn sự phục sanh lý
Quả mãn bồ-đề viên
Hoa khai thế giới khởi.
Đất tâm sanh các giống
Nhơn sự lại sanh lý
Quả đầy bồ-đề tròn
Hoa nở thế giới sanh.
Sau khi Bồ-đề Đa-la đắc pháp với tôn giả Bát-nhã Đa-la. Tôn giả bảo rằng: Ông đối với các pháp đã uyên bác. Đạt-ma là nghĩa thông suốt sâu rộng vậy, nên gọi là Đạt-ma.
Nhân đó đổi như tên hiện nay.
*
Tổ hỏi Tôn giả: Con nên đến nước nào để làm Phật sự.
Tôn giả bảo: Ông tuy đắc pháp, chưa thể đi xa. Hãy ở Nam thiên trúc, đợi sau khi ta diệt độ sáu mươi bảy năm, nên đến nước Chấn Đán, bày lập thuốc đại pháp, chỉ tiếp người thượng căn, cẩn thận chớ đi gấp, không tiện khi đến kinh đô. 
Tổ lại hỏi: Nơi kia có đại sĩ kham làm pháp khí chăng? Ngàn năm sau có bị làm khó dễ chăng?
Tôn giả bảo: Nơi ông giáo hóa, người được bồ-đề không thể kể hết. sau khi ta diệt độ hơn sáu mươi năm, nước kia gặp nạn, chỉ chuộng bề ngoài không trọng lẽ thật, ông khéo tự hàng phục. Ông đến phương nam chớ ở lại, kia chỉ thích việc hữu vi,
chẳng thấy lý Phật. Ông dù đến đó, cũng chẳng thể lưu lại lâu.
Nghe ta nói kệ:
Lộ hành khóa thủy phục trùng dương
Độc tự thê thê ám độ giang
Nhật hạ khả lân song tượng mã
Nhị chu nộn quế cửu xương xương.
Đường đi vượt biển lại gặp Dương 
Riêng tự vội vã thầm qua sông
Kinh đô khả thương đôi tượng mã 
Hai cây còn non thịnh lâu dài.
Tổ lại hỏi rằng: Từ đây về sau có việc gì?
Tôn giả đáp: Từ đây đến một trăm năm mươi năm có chút nạn. Nghe ta nói kệ:
Tâm trung tuy cát ngoại đầu hung
Xuyên hạ tăng phòng danh bất trúng
Vi ngộ độc long sanh Vũ tử
Hốt phùng tiểu thử tịch vô cùng.
Trong tâm tuy tốt việc ngoài lại xấu
Sông trên tăng phòng tên chẳng dung
Vì gặp rồng dữ sanh con Vũ 
Chợt gặp năm chuột, lặng vô cùng. 
Lại hỏi: Sau này thế nào?
Tôn giả bảo: Sau hai trăm hai mươi năm, tùng lâm có một người đắc đạo quả. 
Nghe ta sấm ký: 
Chấn Đán tuy khoát vô dị lộ
Yếu giả nhi tôn cước hạ hành
Kim kê giải hàm nhất lạp mễ 
Cung dưỡng Thập phương La hán tăng.
Chấn Đán tuy rộng, không đường khác 
Cần nhờ con cháu, dưới gót chân đi
Kim kê biết ngậm một hạt thóc 
Cúng dường Thập phương La hán tăng. 
*
Tổ cung kính vâng theo lời dạy. Hầu cận thầy bốn mươi năm. Đến khi Tôn giả tịch, Tổ mới giáo hóa rộng rãi trong nước. Tổ giáo hóa khắp nam Thiên Trúc, tiếng vang khắp vùng Ngũ Ấn.
Tổ nghĩ đến nước Chấn Đán phía Đông, Phật thọ ký sau 500 năm, đèn trí Bát-nhã di chuyển đến kia, Tổ bèn phó chúc đệ tử là Bất-nhã-mật đa-la, ở nơi Thiên Trúc truyền pháp, Tổ đích thân đến Chấn Đán. Từ giã tháp Tổ sư, tạm biệt bạn đồng học, bảo với vua rằng: Chuyên cần tu thiện nghiệp, ta đi chín năm sẽ trở lại. 
*
Tổ lênh đênh trên biển cả trải qua ba mùa nóng lạnh. Đến Nam Hải vào ngày hai mươi mốt tháng chín năm Canh Tí, đời nhà Lương niên hiệu Phổ Thông năm thứ bảy (527). Thứ sử Quảng Châu là Tiêu Ngang đầy đủ lễ nghênh đón, dâng sớ về Vũ Đế. 
*
Vua sai sứ chí thành nghênh đón. Ngày mùng một tháng mười Sư đến Kim Lăng.
Đế hỏi: Trẫm từ lúc lên ngôi đến nay, dựng chùa, chép kinh, độ tăng không thể tính kể, có được công đức gì?
Tổ bảo: Toàn không công đức.
Đế nói: Sao lại không công đức.
Tổ bảo: Đây chỉ là nhân hữu lậu quả nhỏ của trời người. Như bóng theo hình, tuy có những chẳng thật.
Đế nói: Thế nào là thật công đức.
Tổ bảo: Tịnh trí diệu viên, thể tự không tịch, công đức như thế chẳng do việc ở đời mà cầu được.
Đế lại hỏi: Thế nào là nghĩa Thánh đế đệ nhất. 
Tổ bảo: Rỗng thênh không thánh.
Đế nói: Đối trẫm là ai.
Tổ bảo: Chẳng biết.
Đế chẳng ngộ. Tổ biết cơ duyên không khế hợp, nên ngày mùng chín tháng muời, lặng lẽ thầm về Giang Bắc.
Ngày 23 tháng 11 đến Lạc Dương, dừng tại Tung Sơn chùa Thiếu Lâm. Ngồi quay mặt vào vách, cả ngày không nói. Mọi người không biết được, gọi ngài là ‘Bích quán Bà la môn’.
Sau đó truyền pháp lại cho Huệ Khả là Nhị Tổ, Đạt-ma thị tịch vào năm 543.
[Phần Tổ Đạt Ma truyền pháp cho Tổ Huệ Khả xem 
Q.2 Tuyết Hồng Thiếu Thất)]
CHÚ THÍCH:
[1] Dương羊: chỉ Dương Thành là Quảng Châu ngày nay.
[2] Nhị chu 二株: hai cây,  chiết tự của chữ lâm 林; Nộn quế 嫩桂 ý còn non (thiếu 少). Sau này giải ý là Thiếu Lâm.
[3] Nguyên văn chữ Hán câu này là 川下僧房名不中 Theo chú giải người đời gọi tăng phòng 僧房 là ấp邑. Sông (xuyên 川) trên tăng phòng là chữ Ung 邕. Hậu Chu Văn đế là Vũ Thái Ung 秦邕
[4]  Vì gặp rồng dữ sanh con Vũ, (pháp nạn Vũ Đế)
[578 Mậu Tuất Chu Vũ Đế băng, Dương Kiên cho hoạt động Phật giáo trở lại vào năm Canh Tí (580). Mời cao tăng Pháp Tạng khôi phục lại đạo Phật]
Pháp Tạng (546-629) Cao tăng thời Tùy Đường. Người Dĩnh Xuyên Dĩnh Âm, họ Húc荀. Xuất gia năm 22 tuổi. Gặp pháp nạn Bắc Chu, Sư ẩn ở núi rừng. Khi Tùy Văn Đế khôi phục Phật giáo, Sư ra giúp.
[5]  Lâm hạ 林下 hiểu là tùng lâm cũng có thể hiểu là nơi Thiếu Lâm.
[6] Không đường khác (vô dị lộ) giải đoán là chỉ có một con đường, tức là Đạo Nhất (tên của Mã TỔ]
[7] Chùa La Hán tại huyện Thập Phương (Hán Châu, Tứ Xuyên) nơi Mã Tổ Đạo Nhất xuất gia. Bài kệ này ý chỉ Mã Tổ Đạo Nhất, người kế thừa Nam Nhạc Hoài Nhượng và là đầu nguồn tông Lâm Tế về sau.
[8] Chấn Đán (Cīna-sthāna) Cīna dịch ý là Tư duy, Sthāna dịch ý là Trụ xứ.

BẢN HÁN

▲初祖菩提達磨 大師者。南天竺 國香至王第三子也。姓剎帝利 。本名菩提多羅。後於般若多羅 尊者得法。尊者謂曰。汝於諸法已得通 量。達磨者通大之義也。宜名達磨。因改今名。
(祖問尊者。當往何國作佛事。者曰。汝雖得法。未可遠遊。且止南天。待吾滅後六十七載。當往震旦 。設大法藥。直 接上根。慎勿遠行衰於日下 。
祖又曰。彼有大士堪為法器否。千載之下 有留難 否。者曰。汝所化之方。獲菩提者不可勝數。吾滅後六十餘年。彼國有難。水中文 布。自善降之。汝至南方勿住。彼惟好有為功業。不見佛理。汝縱到彼。亦不可久留。聽吾偈曰。路行跨水復逢羊。獨自栖栖 暗渡江 。日下可憐雙象馬。 二株嫩桂久昌昌。
又問曰。此後更有何事。者曰。從是已去一百五十年。而有小難。
聽吾讖。偈曰。
心中雖吉外頭凶 。
川下僧房名不中。
為遇毒龍生武子。
忽逢小鼠寂無窮。
又問。此後如何。者曰。卻後二百二十年。林下見一人。當得道果。
聽吾讖曰。
震旦雖闊無別路。
要假兒孫腳下行。
金雞 解銜一粒粟。 供養十方羅漢僧。
祖恭稟教義。服勤四十年。迨尊者順世。遂演化本國。
祖念東震旦國。佛記後五百歲。般若智燈運光於彼。遂囑弟子不若蜜多羅。住天竺傳法。而躬至震旦。乃辭祖塔。別學侶。且謂王曰。勤修白業 。吾去一九 即回。
祖泛重溟。凡三周寒暑。達於南海。實 梁普通七年 庚子歲。九月二十一日也。廣州刺史蕭昂。具禮迎供。表聞 武帝。帝遣使齋 詔迎請。以十月一日至金陵。
帝問曰。朕即位以來。造寺寫經度僧。不可勝紀。有何功德。
祖曰。並無功德。帝曰。何以 無功德。
祖曰。此但人天小果有漏之因。如影隨形。雖有非實。
帝曰。如何是真功德。
祖曰。淨智妙圓。體自空寂。如是功德不以世求。
帝又問。如何是聖諦第一義。
祖曰。廓然無聖。
帝曰。對朕者誰。
祖曰不識。
帝不悟。

< Trở về mục lục

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *